CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP: Chuyên tư vấn thành lập doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp, in hóa đơn,
uy tín, trách nhiệm với đội ngũ nhân viên chuyên sâu, nhiều kinh nghiệm...giá rẻ nhất Hà Nội!!! Xem thêm tại FACEBOOK LUẬT HỒNG THÁI

Một số điểm còn hạn chế của pháp luật đầu tư tại Việt Nam


- Pháp luật về đầu tư tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy tính ổn định chưa cao.

Thực hiện đầu tư dự án là một quá trình diễn ra lâu dài, không thể tính bằng một vài năm mà phải được tính bằng chục năm hoặc vài chục năm. Do vậy các công cụ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động đầu tư cũng cần mang tính ổn định và có chiều sâu.

Tuy nhiên chỉ tính trong năm 2005, 2006 Quốc hội đã họp và thông qua gần 30 luật quan trọng có liên quan đến hoạt động đầu tư, ví dụ như: Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, bộ Luật Dân sự... đồng thời để mở đường cho Việt Nam đủ điều kiện gia nhập WTO vào năm 2006, Việt Nam đã thay đổi hàng trăm văn bản pháp luật tư luật, nghị định, thông tư.. Vào cuối năm 2014, Quốc hội cũng đã thông qua hơn 10 luật quan trọng điều chỉnh hoạt động đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở...

Việc những quy định pháp luật thường xuyên bị thay đổi như vậy dẫn tới nhiều bất cập trong quá trình pháp luật đi vào thực tiễn.

- Pháp luật đầu tư tại Việt Nam chưa thống nhất, còn nhiều mâu thuẫn chồng chéo.

Hoạt động đầu tư diễn ra trong nhiều lĩnh vực và do vậy chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành. Các quy định ấy thownfg điều chỉnh một hoặc một số vấn đề trong dự án tổng thể. Do góc nhìn của các cơ quan liên quan khác nhau như vậy nên việc chưa thống nhất, còn nhiều mâu thuẫn và chồng chéo  giữa các văn bản do các cơ quan khác nhau ban hành, thậm chí là văn bản do một cơ quan ban hành, đó là điều khó tránh khỏi.

- Số lượng văn bản pháp luật về đầu tư nhiều và chưa được pháp điển hóa.

Như đã nói ở trên thì các văn bản pháp luật về đầu tư khá đa dạng , ở tầng trên cùng là các điều ước quốc tế, tiếp đó là các luật, văn bản dưới luật.

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, công văn không được xem là một hình thức của văn bản pháp luât, theo đó chỉ được áp dụng cho các trường hợp được hướng dẫn bằng công văn đó mà không được viện dẫn hoặc áp dụng cho các trường hợp khác tương tự. Bên cạnh đó, việc pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam còn là vấn đề mới, còn tồn tại thực tế quan hệ pháp luật được điều chỉnh trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Do vậy khi tìm kiếm quy định pháp luật để hướng dẫn cho một quan hệ pháp luật, chúng ta không chỉ tìm kiếm trong một văn bản pháp luật mà phải tìm kiếm trong các văn bản quy phạm khác.

- Pháp luật đầu tư chưa được giải thích thống nhất.

Thực tế cho thấy, việc văn bản pháp luật về đầu tư chưa thống nhất nên các cơ quan áp dụng pháp luật dễ tạo cho mình một thói quen tùy tiện trong việc hướng dẫn, giải thích các quy định pháp luật chưa quy định hoặc có quy định chưa rõ ràng. Hệ lụy của cách làm này dẫn đến việc mỗi địa phương có một cách hiểu và quy trình thực hiện hoạt động khác nhau.

- Quyền lực của các cơ quan nhà nước liên quan đến đầu tư mạnh và trực tiếp.

Pháp luật đầu tư Việt Nam đã dần được cải cách và “cởi mơ” hơn theo hướng có lợi cho nhà đầu tư. Mặc dù pháp luật đầu tư đã khẳng định được vai trò và đạt được nhiều kết quả nhất định. Tuy nhiên bên cạnh đó, cơ chế cấp phép và quản lý về đầu tư vẫn còn phảng phất cơ chế “xin - cho”, trong đó ý kiến góp ý của cơ quan nhà nước có liên quan đến đầu tư có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến việc nhà đầu tư có được phép thực hiện hoạt động đầu tư đó hay không.


Gửi thông tin tư vấn

Họ tên(*)
Số điện thoại(*)
Fax
Email(*)
Địa chỉ
Yêu cầu tư vấn

Điều kiện sử dụng thông tin | Bảo mật khách hàng
Copyright © HONG THAI INTERNATIONAL LAWFIRM AND PARTNERS 2014 - 2016. All rights reserved -  Design and support by THANHNAM SOFTWARE